Tài Liệu

Những thu hoạch cho bản thân về Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh thông qua khóa học bồi dưỡng lý luận chính trị

Những thu hoạch gì cho bản thân về Đảng Cộng sản Việt Nam và Tư tưởng Hồ Chí Minh thông qua khóa học bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đối tượng kết nạp Đảng như thế nào, chúng ta cùng đi tìm hiểu.

Câu hỏi thu hoạch cảm tình Đảng

Câu 1: Sau quá trình tham gia khóa học bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đối tượng kết nạp Đảng do Đảng bộ …………tổ chức, tôi cảm thấy vinh dự và tự hào khi nhận được sự quan tâm, tin tưởng của Lãnh đạo, của Đảng bộ NHPT. Khóa học rất có ý nghĩa đối với cá nhân tôi và giúp tôi có thêm được nhiều kiến thức quý báu, sự hiểu biết sâu sắc về Đảng Cộng sản Việt Nam: về quá trình thành lập Đảng; về Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam; sự đóng góp xây dựng của thế hệ cha ông cho công cuộc xây dựng Đảng đặc biệt là Bác Hồ; sự kế thừa vun đắp và tích lũy kinh nghiệm của lịch sử Đảng vào sự phát triển của đất nước; về nội dung, những vấn để thực tiễn của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tôi được tiếp xúc, học tập cùng với các đồng nghiệp khác đến từ các đơn vị thuộc……… Hơn thế nữa tôi đã được rèn luyện nâng cao hơn về bản lĩnh chính trị, lý tưởng Đảng, phẩm chất đạo đức cách mạng, mục tiêu phấn đấu nhiều hơn nữa để được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Tôi xin trình bày chi tiết những thu hoạch cho bản thân sau khóa học, tôi xin trình bày về những kiến thức đã đạt trong tôi về Đảng Cộng sản Việt Nam và lý tưởng của tư tưởng Hồ Chí Minh:

1. Nhận thức của tôi về Đảng Cộng sản Việt Nam:

1.1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm sàng lọc của lịch sử đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam dưới ánh sáng của thời đại mới cùng sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin, Phong trào công nhân và Phong trào yêu nước ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Trải dài theo dòng lịch sử của nước nhà, Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân đi hết từ thắng lợi này cho tới thắng lợi khác. Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua, cho thấy sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cuộc chiến tranh xâm lược, tạo ra những trận chiến lịch sử lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới trong sự phát triển của dân tộc Việt Nam, đem lại cuộc sống bình yên, ấm no và hạnh phúc cho toàn dân tộc Việt Nam.

Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài, gian khổ, dân tộc ta sớm hình thành truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh anh dũng bất khuất. Hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn, phong trào chống thực dân Pháp đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau như khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ khoa Huân, phong trào Cần Vương, phong trào Đông Dương…Các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đó vô cùng anh dũng, nhưng chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của thời đại và xã hội nên đã bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và cuối cùng đều thất bại.

Trong lúc cách mạng Việt Nam đứng trước sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước. Ngày 05/6/1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đi qua nhiều nước, vừa lao động vừa kiếm sống, quan sát, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm của các nước, rút ra bài học làm cơ sở cho lựa chọn con đường cách mạng của đất nước.

Năm 1917, Cách Mạng tháng 10 Nga thắng lợi đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Nhưng bước ngoặt lớn trong tư tưởng của Người chỉ đến khi Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin (vào tháng 7/1920). Từ đó, Người đã tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, đó là con đường cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; cách mạng giải phóng dân tộc từng nước gắn với phong trào cách mạng vô sản trên thế giới… Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phòng dân tộc không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của cách mạng Việt Nam. Sự gắn kết giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội chính là con đường tất yếu khách quan, hợp với quy luật phát triển của đất nước, bối cảnh thời đại, hợp lòng người:

Sau một thời gian ngắn tham gia học tập ở Liên Xô và hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cốt cán, tiếp tục chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng. Đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX, ở nước ta, các tổ chứng cộng sản lần lượt được thành lập:

  • Ngày 17/6/1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập.
  • Khoảng tháng 11/1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập.
  • Ngày 01/01/1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập.

Chỉ trong một thời gian ngắn, ở Việt Nam đã thành lập ba tổ chức cộng sản. Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở nước ta lúc bấy giờ; đồng thời sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết của cách mạng đặt ra là cần có một đảng cộng sản duy nhất để lãnh đạo phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.

Từ ngày 6/01 đến ngày 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại bán đảo Cửu Long, đã hợp nhất một đảng thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đó là cột mốc lớn, bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức gánh vác sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng.

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng đoàn kết, kiên cường, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ những thành tựu đã đạt đước của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã chứng tỏ chân lý: “…một dân tộc dù là nhỏ yếu, nhưng một khi đã đoàn kết đứng lên, kiên quyết đấu tranh dưới sự lãnh đạo của chính đảng Mác – Lênin để giành độc lập và dân chủ, thì có đầy đủ lực lượng để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Thắng lợi đó cũng chứng tỏ rằng chỉ có sự lãnh đạo đúng đắn của giai cấp công nhân mà Đảng ta là đại biểu, chỉ có đường lối cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin mới có thể tạo điều kiện cho nhân dân ta đánh bại quân thù và giành tự do, độc lập”.

Cơ sở, nguồn gốc sức mạnh và truyền thống của Đảng là: Đảng đứng vững trên nền tảng tư tưởng tiên tiến của thời đại, đó là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng không chỉ nắm bắt những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn vận dụng sáng tạo và phát triển trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Cơ sở, nguồn gốc sức mạnh của Đảng còn ở chỗ Đảng đã không ngừng phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tiếp thu những tinh hoa trí tuệ của nhân loại.

1.2. Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý trí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo cá nhân; là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của đân tộc Việt Nam, là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc:

Đảng ta đã quy tụ, đoàn kết chung quanh mình tất cả các giai cấp, các tầng lớp yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp, khẳng định sức mạnh của Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý trí và hành động đã đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trải qua các cuộc đấu tranh gian khổ, với ba cao trào cách mạng lớn (1930-1931, 1936-1939, 1939-1945), Đảng đã lãnh đạo Nhân dân đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng và tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945. Nhân dân Việt Nam đã đạp tan xiềng xích nô lệ của chế độ thực dân và lật đổ chế độ phong kiến tay sai thối nát, Dân tộc ta bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Ngay từ khi mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, mọi lực lượng của nước nhà còn rất non yếu. Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối chính trị sáng suốt vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo về sách lược, Đảng ta đã động viên được sức mạnh đoàn kết toàn dân, triệu người như một, vượt qua muôn vàn khó khăn, nguy hiểm để củng cố, giữ vững chính quyền, đưa cách mạng vượt qua tình thế hiểm nghèo, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và đánh dấu bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Tất cả thực tiễn phong phú, sôi động, hào hùng của dân tộc ta trong 90 năm qua ngày càng khẳng định rõ hơn nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Đảng vừa tròn 30 tuổi:

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao

Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình.

Đảng ta là đạo đức, là văn minh,

Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no”

Đảng ta vĩ đại, trước hết chính vì Đảng tiêu biểu cho sức mạnh trí tuệ của giai cấp công nhân hiện đại, cho tiềm lực tinh thần truyền thống của dân tộc và tiếp thu được những tinh hoa của văn hoá nhân loại. Ngay từ khi thành lập, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong ba yếu tố hợp thành của Đảng: chủ nghĩa Mác- Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc lên trên hết, đó cũng chính là nguyên nhân sâu xa làm nên sức mạnh đoàn kết rất đáng tự hào của Đảng ta, đã tạo nên uy tín lãnh đạo của Đảng đối với toàn dân tộc; làm cho Đảng được dân tin, dân phục, dân yêu mến, dân giúp đỡ, ủng hộ và bảo vệ.

Lịch sử 90 năm xây dựng và phát triển của Đảng đã chứng tỏ, cội nguồn sức mạnh của Đảng không chỉ thể hiện ở chỗ mọi hoạt động của Đảng đều xuất phát vì lợi ích của nhân dân mà còn thể hiện Đảng luôn luôn gắn bó chặt chẽ với nhân dân, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ và che chở. Lãnh tụ Hồ Chí Minh coi việc hoạch định đường lối chính sách của Đảng không chỉ là công việc của bản thân Đảng mà còn phải biết phát huy trí tuệ của toàn dân vào việc xây dựng đường lối của Đảng: “Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết”. Đảng đã nhận thức sâu sắc: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy được lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân”.

Khi tổng kết những kinh nghiệm quý sau hơn 30 năm đổi mới, một trong những bài học quan trọng hàng đầu được Đại hội X của Đảng đúc kết là bài học “lấy dân làm gốc”: “Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân. Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào nhân dân, xuất phát từ thực tiễn và thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm ra quy luật phát triển, đó là chìa khóa của thành công”.

Nhìn lại chặng đường đấu tranh đầy khó khăn, thử thách nhưng vô cùng oanh liệt của Đảng ta trong chín thập kỉ qua, tôi nhận ra bài học “lấy dân làm gốc”, trân trọng quá khứ, nâng niu giữ gìn những thành quả cách mạng của cách mạng, càng thấm thía và biết ơn vô hạn công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ đảng viên đã xả thân vì nền độc lập, thống nhất của đất nước, càng thêm tự hào về Đảng ta, nhân dân và dân tộc Việt Nam ta.

1.3. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.

Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn đứng vững trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lợi ích của nhân dân, của dân tộc, coi đó là điểm xuất phát của mọi đường lối, chủ trương của Đảng. Ngay Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng phản ánh đúng quy luật khách quan, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, đáp ứng đúng yêu cầu của thực tiễn, vạch ra được mục tiêu, phương hướng và giải pháp cơ bản của cách mạng. Từ đó tiến hành tập hợp, tổ chức, động viên toàn thể nhân dân biến đường lối của Đảng thành hành động cách mạng của quần chúng. Tinh thần cơ bản của bản Cương lĩnh ấy được phát triển, cụ thể hoá đáp ứng những nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và từng bước xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Ngay sau khi giành được chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lí gì”. Mục tiêu của Đảng là làm cho mọi người dân ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, được sống ấm no và sung sướng; mang lại quyền làm chủ về kinh tế, xã hội cũng là thước đo trình độ giải phóng xã hội, sự phát triển của xã hội.

1.4. Đảng ta luôn kiên định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội:

Lý luận và thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đều khẳng định: con đường duy nhất đúng để đất nước phát triển bền vững là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; là sự lựa chọn kiên quyết và đúng đắn, là sự kiên định và sáng tạo của Đảng ta dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp quy luật, đúng như Đại hội lần thứ XII (2016) của Đảng khẳng định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”

Khi vừa mới ra đời, với đường lối cách mạng cứu nước đúng đắn trong Cương lĩnh, Con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội để đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa được chỉ rõ là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” – tức là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng, từng bước đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hai giai đoạn cách mạng này có quan hệ biện chứng; trong đó: 1) Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải giành được độc lập dân tộc. 2) Đi lên chủ nghĩa xã hội chính là điều kiện tiên quyết để giữ vững được độc lập dân tộc và xây dựng được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Bước vào thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cách mạng Việt Nam có những thuận lợi song cũng có không ít khó khăn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991). Đại hội đưa ra quan niệm tổng quát về xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, phương hướng cơ bản để xây dựng xã hội ở nước ta. Cương lĩnh năm 1991 khẳng định: chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Phải xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo của Đảng.

Tiếp đó, kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII nhấn mạnh: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn. Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa” 14. Đại hội Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” 15. Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ X (2006) của Đảng khẳng định nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn với 8 đặc trưng cơ bản; đồng thời, nhấn mạnh bài học số một là: Trong quá trình đổi mới, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tại Đại hội XI của Đảng (2011) đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm lớn mà Cương lĩnh năm 1991 rút ra từ 60 năm cách mạng Việt Nam: (1) tiếp tục nhấn mạnh bài học đầu tiên “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”là điều kiện tiên quyết, nhiệm vụ chiến lược gắn liền với xây dựng CNXH; (2) sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; (3) không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; (4) kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế; (5) sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, hơn bao giờ hết, bài học “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới”, tập trung giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở Việt Nam (giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế) càng phải được chủ động bám sát và kiên trì thực hiện.

Cương lĩnh thời, khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” 16. Cương lĩnh nêu những nội dung cơ bản của con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; bổ sung, phát triển những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng với 8 đặc trưng cơ bản: 1) Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh; 2) Do Nhân dân làm chủ; 3) Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; 4) Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 5) Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; 6) Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; 7) Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; 8) Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới; 8 phương hướng cơ bản và những mối quan hệ lớn cần phải nắm vững và giải quyết tốt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều đó cũng khẳng định rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc và là hai mặt không thể tách rời của con đường phát triển đất nước, hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

1.5. Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, toàn Đảng, toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau đây:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Căn cứ vào yêu cầu và điều kiện cụ thể của công cuộc đổi mới, Đại hội XII (4/2016) đã xác định các nhiệm vụ trụ cột của cách mạng nước ta hiện nay là: phát triển kinh tế – xã hội là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; xây dựng văn hóa, con người là nền tảng tinh thần của xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh là trọng yếu thường xuyên. Trong gần 35 năm đổi mới, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước ta, dân tộc ta ngày càng rõ ràng và đầy đủ hơn.

Những thành tựu đã đạt được đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.

Học tập, nghiên cứu lịch sử và truyền thống của Đảng để tự hào về Đảng và góp phần giữ vững, kế thừa, phát huy những truyền thống đó, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm thời đại mới.

2. Đạo đức, tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và Nhân dân ta. Tư tưởng của Người là “nguồn sáng dẫn đường”, là kim chỉ nam cho Đảng và Nhân dân ta tiến bước; đạo đức và phong cách của Người là tấm gương sáng để mỗi chúng ta tự soi rọi bản thân mình. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, phải được thực hiện thường xuyên, liên tục trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thiên tài của Đảng và Nhân dân ta, là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, là anh hùng giải phóng dân tộc, là Danh nhân văn hóa thế giới. Ham muốn tột bậc của người thật là giản dị: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”…

2.1. Hình ảnh tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong tôi:

Suốt cuộc đời, Bác hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Tháng 6/1911, Bác lên con tàu rời đất nước, vừa lao động vừa kiếm sống để tìm đường cứu nước. Đất nước đầu tiên Bác đến là nước Pháp, trung tâm của châu Âu lúc bấy giờ, là quốc gia đang đô hộ đất nước Việt Nam. Hình ảnh Bác ra đi tìm đường cứu nước luôn được các nhà thơ, nhà văn, nhà giáo truyền đạt lại cho thế hệ sau về người cách mạng có trái tim nồng nàn yêu nước, sự chịu đựng kiên cường, đức hi sinh cao cả với quyết tâm tìm ra con đường cứu dân, cứu nước:

“Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê

Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá

Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ

Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya?

Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể

Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi

Những đất tự do, những trời nô lệ

Những con đường cách mạng đang tìm đi

Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước

Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà

Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc

Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa

Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây?

Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử?

Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ

Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?

Rồi cờ sẽ ra sao? Tiếng hát sẽ ra sao?

Nụ cười sẽ ra sao?

Ơi, độc lập!”

Trích: Người đi tìm hình của nước – Chế Lan Viên

Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển sau hàng chục năm Người bôn ba ở nước ngoài và lao mình vào hoạt động thực tiễn, đồng thời không ngừng học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển một cách linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào tình hình thực tế của nước ta. Song song đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại.

Người đã gắn bó và hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân đến hơi thở cuối cùng. Bác Hồ là bậc vĩ nhân hiếm có, một vị lãnh tụ tài đức vẹn toàn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau một di sản đồ sộ, vô cùng quý giá và thiêng liêng, đó là tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh!

Nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng lỗi lạc mà chính bản thân Người, với những việc làm hàng ngày trong cuộc sống thường nhật là hiện thân của nền văn hóa Việt Nam, là mẫu mực của con người Việt Nam. Tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hết sức trong sáng và vô cùng cao thượng, là sự kết tinh của nền văn hóa Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại. Là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta; là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo.

2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểmtoàn diện sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp vủa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của Nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của Nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân; về chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần-kiệm-liêm-chính, chí công-vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, về xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh; cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân….

Theo Nghị quyết Đại hội IX, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh gồm 9 nội dung:

+ Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người;

+ Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại;

+ Tư tưởng về sức mạnh của Nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc;

+ Tư tưởng về quyền làm chủ của Nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân;

+ Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân;

+ Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân;

+ Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;

+ Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau;

+ Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vũng mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân…

– Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng, dân tộc Việt Nam.

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta giành thắng lợi. Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho Đảng ta và Nhân dân ta trên con đường thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

+ Giá trị quốc tế của tư tưởng Hồ Chí Minh: Tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh khát vọng thời đại, không chỉ là sản phẩm của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam, mà còn là sản phẩm của thời đại, của nhân loại tiến bộ. Người nhận thức đúng sự biến chuyển của thời đại, đặt cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa vào phạm trù cách mạng vô sản và hoạt động không mệt mỏi cho phong trào cách mạng thế giới. Người kiên quyết bảo vệ và phát triển quan điểm của V.I. Lênin về khả năng to lớn và vai trò chiến lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa đối với cách mạng vô sản.

Từ kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam, Người đi đến khẳng định bài học chung của các dân tộc: “… trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”Hồ Chí Minh: toàn tập, Sđd, t.12, tr 31.

Những tư tưởng trên đây của Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi mãi là chân lý sáng ngời, góp phần vào sự kiến tạo và phát triển của nhân loại. Góp phần cổ vũ các dân tộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả.

2.3. Những nội dung chủ yếu của đạo đức Hồ Chí Minh:

Theo Người thì đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” 

Vì thế đạo đức là cái gốc của người cách mạng, một người muốn trở thành người cách mạng phải lấy đạo đức làm gốc và thường xuyên rèn luyện đạo đức “Cũng như ngọc, càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Sinh thời Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc rèn luyện đạo đức, coi việc rèn luyện đạo đức trong đội ngũ cán bộ như một việc làm thường xuyên, giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng đạo đức cách mạng. Người nói rằng: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” 

Đối với Đảng, đội tiên phong của giai cấp công nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng Đảng ta thật trong sạch, người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”

Quan điểm của Hồ Chí Minh về những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam: với đất nước với dân tộc phải Trung với nước, hiếu với dân; với mọi người phải “Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; với mình phải thực sự “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; mở rộng quan hệ yêu thương con người đối với toàn nhân loại, người cách mạng phải có “Tinh thần quốc tế trong sáng”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản vĩ đại, nhưng đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người Việt Nam chân chính, bình thường, gần gũi, ai cũng có thể học theo, làm theo, để trở thành một người cách mạng, người công dân tốt hơn trong xã hội.

2.3. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên cần làm tốt các mặt sau đây:

Một là, thực hiện “trung với nước, hiếu với dân”, mỗi cán bộ, đảng viên phải trung thành vô hạn với mục tiêu lý tưởng của Đảng, của dân tộc, tham gia tích cực vào việc đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;

Hai là, thực hiện đúng lời dạy: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, nêu cao phẩm giá con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Ba là, nâng cao ý thức dân chủ và kỷ luật, gắn bó với nhân dân, vì nhân dân phục vụ.

Bốn là, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần phát huy chủ nghĩa yêu nước gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

Từ ngày thành lập, Đảng đã dựa trên tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để xác định đường lối Cách mạng Việt Nam, Đại hội II của Đảng đã nêu khẩu hiệu: “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Lời thề của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đọc trong lễ truy điệu Người đã khẳng định: Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của HỒ CHỦ TỊCH”.

Bắt đầu đường lối mới toàn diện đất nước, trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội VI của Đảng (1986) đã yêu cầu: “Mỗi người cộng sản chúng ta cần phải suốt đời học tập, soi gương đạo đức, tác phong của Bác Hồ, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, ghi nhớ và làm theo lời dạy của Người, nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ trung thành của nhân dân”

Tại Đại hội VII (năm 1991), lần đầu tiên Đảng ta khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng. Tiếp theo chủ trương tổ chức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được bắt đầu từ Hội nghị Trung ương 12 khóa IX (năm 2005). Đại hội lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nhiệm vụ thường xuyên của cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng”.

Qua 20 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Việc thực hiện dân chủ trong Đảng và trong xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân có nhiều tiến bộ… Đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo trong công tác, rèn luyện phẩm chất, năng lực, đóng vai trò nòng cốt trong công cuộc đổi mới.

Tuy nhiên, trong Đảng và trong xã hội ta hiện nay đã xuất hiện tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn; một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấy lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII tiếp tục chỉ ra: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước… Trong khi đó, sự uy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, ngày 15/5/2016, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Chỉ thị số 05 – CT/TW tiếp tục khẳng định: “đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội, địa phương, đơn vị gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII, mục đích, yêu cầu của việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã được nâng cao hơn, phạm vi rộng hơn so với Chỉ thị số 06 – CT/TW và Chỉ thị số 03 – CT/TW; trong đó có nhiệm vụ chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Về nội dung, lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh không chỉ về chính trị, tư tưởng, tổ chức, mà còn nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức. Đại hội cũng đã đưa việc học tập “phong cách Hồ Chí Minh” vào trong văn kiện chính thức của Đại hội.

Từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định: Triển khai việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; nền tảng tư tưởng, cơ sở lý luận của công cuộc đổi mới, từ thực tiễn và kinh nghiệm của quá trình học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Góp phần để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, giải quyết các vấn đề cấp bách nêu trên và có ý nghĩa lâu dài.

3. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với các quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng, đối ngoại… của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, những năm qua, nước ta đã giành được nhiều thắng lợi trên con đường cách mạng, từng bước xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Một số thành tựu tiêu biểu của cách mạng Việt Nam và công cuộc đổi mới đất nước:

+ Về chính trị: nước ta trở thành một quốc gia có chế độ chính trị độc lập; thể chế, hệ thống chính trị từng bước hoàn thiện và có bước phát triển;nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ; dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được phát triển

+ Về kinh tế – xã hội: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế từng bước được đẩy mạnh; phát huy lợi thế ngành và lãnh thổ; Từ một nền kinh tế từ thế bị bao vây, cấm vận, khép kín sang nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế; trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình Chính sách xã hội được quan tâm, đời sống nhân dân được cải thiện, không ngừng nâng cao.

+ Về văn hóa: Văn hóa phát triển đa dạng, phong phú; Nhiều phong trào, cuộc vận động về văn hóa đạt kết quả tích cực, góp phần tạo môi trường văn hóa, bảo vệ và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; Công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc đạt nhiều kết quả; di sản văn hóa đang trở thành tài nguyên độc đáo của du lịch Việt Nam.

+ Về xã hội: Chính sách xã hội được quan tâm, đời sống nhân dân được cải thiện, không ngừng nâng cao. Đến năm 2000, cơ bản xóa xong tình trạng đói kinh niên; Chỉ số phát triển con người không ngừng tăng lên.

+ Về y tế: Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được tăng cường; Mạng lưới y tế được mở rộng, nhất là y tế cơ sở, 100% số xã có trạm y tế hoặc có phòng khám đa khoa khu vực liên xã; 87,5% số trạm y tế xã có bác sĩ làm việc (bao gồm cả bác sĩ làm việc lâu dài và bác sĩ tuyến trên luân phiên về làm việc hai, ba ngày trong tuần); Chủ động sản xuất được nhiều vắcxin phòng bệnh; Kiểm soát và ngăn ngừa nhiều dịch bệnh nguy hiểm (thanh toán bệnh đậu mùa vào năm 1978, thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000, loại trừ uốn ván sơ sinh vào năm 2005, từ năm 2002 không có bệnh dịch hạch; là một trong những quốc gia đầu tiên khống chế thành công dịch SARS, cúm A/H5N1, cúm A/H1N1; ngăn chặn thành công không để một số dịch bệnh nguy hiểm mới nổi xâm nhập như cúm A/H7N9, Ebola, MERS-CoV…; tất cả bệnh truyền nhiễm mới nổi đến nay, Việt Nam đều có khả năng xét nghiệm và phát hiện bệnh như MERS-CoV, Ebola, cúm A/H7N9 hay COVID-19, v.v…).

+ Về giáo dục, đào tạo: Quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân; Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên; Hợp tác quốc tế được đẩy mạnh (Tính đến năm 2019, cả nước có tổng số 455 dự án FDI thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo; các nước đã cấp khoảng 1.400 suất/năm cho lưu học sinh Việt Nam đi học tập ở các trình độ từ đại học đến tiến sĩ và thực tập, nghiên cứu ở nước ngoài).

+ Về quốc phòng – an ninh: Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị – xã hội, trật tự an toàn xã hội và môi trường hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển đất nước; Xây dựng toàn diện nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; Tiềm lực quốc phòng và an ninh được tăng cường; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; Hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh đạt nhiều kết quả.

+ Về đối ngoại và hội nhập quốc tế: Công tác đối ngoại đã góp phần duy trì, củng cố môi trường hòa bình ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đóng góp tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội (Việt Nam chủ động tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1998, Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) năm 2007. Tham gia tích cực, có trách nhiệm với các diễn đàn khu vực và quốc tế như Hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016, Ủy ban Kinh tế – xã hội Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2016 – 2018, Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 – 2017, Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc…).

Những thắng lợi, thành tựu to lớn của nước ta những năm qua đã chứng minh con đường cách mạng mà Đảng, Nhân dân ta lựa chọn là đúng đắn. Thực tiễn đã cho thấy dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã giành được độc lập, thống nhất đất nước và tiến hành công cuộc đổi mới, thu được những thành tựu làm thay đổi căn bản đời sống xã hội, được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của share-data.top.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button